Phim việt
 

‘Cánh đồng hoang’ - bản hùng ca trữ tình của điện ảnh Việt

‘Cánh đồng hoang’ – bản hùng ca trữ tình của điện ảnh Việt


»

18:13:42 11/09/2017
Chia sẻ
 

Là tác phẩm duy nhất của điện ảnh Việt Nam giành giải thưởng cao nhất ở một LHP quốc tế, sau gần 40 năm “Cánh đồng hoang” (1979) vẫn là một trong những bộ phim kinh điển nhất.

Cánh đồng hoang từng đoạt huy chương vàng LHP Moscow năm 1981. Đó cũng là một trong hiếm hoi một bộ phim Việt thể hiện được vẻ đẹp gần như hoàn hảo từ biên kịch đến đạo diễn, từ quay phim đến âm nhạc, và đặc biệt nhất là diễn xuất với hai ngôi sao điện ảnh một thời: Lâm Tới và Thúy An.

Họ đại diện cho một thế hệ những người làm phim đẹp nhất của điện ảnh Việt và trở thành “những người muôn năm cũ” của ngày hôm nay.

Cánh đồng hoang là bộ phim chiến tranh thể hiện cho tinh thần “dựa vào sức dân mà đánh Mỹ”, một bản anh hùng ca của chiến tranh du kích, tạo nên đối lập giữa sự thô sơ và vũ khí hiện đại.

Tuy nhiên, những thông điệp có phần tuyên truyền này được lồng ghép trong một câu chuyện giản dị đầy sức sống, tạo nên một bản anh hùng ca vừa trữ tình vừa bi tráng.

‘Cánh đồng hoang’ - bản hùng ca trữ tình của điện ảnh Việt

Thúy An trong vai Sáu Xoa.

Ý tưởng độc đáo của Nguyễn Quang Sáng

Có lẽ đó chính là nguyên nhân khiến Cánh đồng hoang trở thành một kiệt tác kinh điển, phần nào thoát được sự rao giảng, ca ngợi một chiều hay trở thành chiếc loa tuyên truyền cho việc ta thắng địch thua, ta tốt địch xấu và được công nhận ở tầm quốc tế.

Sức sống lâu bền của Cánh đồng hoang bắt đầu từ ý tưởng và bối cảnh độc đáo của nó. Nhà văn Nguyễn Quang Sáng, tác giả kịch bản của bộ phim, kể lại trong một bài báo của ông rằng ý tưởng của phim nảy sinh trong đầu ông từ năm 1966.

“Từ Hà Nội vượt Trường Sơn, tôi về chiến trường Đồng Tháp Mười, tôi theo giao liên trên chiếc xuồng qua bao nhiêu cánh đồng vào mùa nước nổi. Đây là một chiến trường rất đặc biệt. Một chiến trường không có núi non, rừng thì rừng tràm, từng cụm lưa thưa”.

“Chiến sĩ cán bộ đều sống trên chiếc xuồng lênh đênh trên mặt nước. Không hầm hố tránh bom đạn. Nước là một cộng sự mênh mông. Tránh pháo, tránh bom, tránh rốc két từ trực thăng bắn xuống chỉ có một cách duy nhất là lặn” (Ba chữ S của Cánh đồng hoang – Báo Lao Động)

Ông viết tiếp: “Dân Đồng Tháp ai mà không biết bơi, biết lặn, biết chèo, biết chống. Tôi là dân đồng nước, mọi chuyện đó với tôi là sự thường. Nhưng những đứa nhỏ một hai tuổi thì sao? Nhà nào có con nhỏ, thì cha mẹ đã có sẵn bao nylon”.

“Bom đạn tới thì cha mẹ bỏ đứa nhỏ vào bao nylon nhận nó xuống nước, bom đạn dứt thì trồi lên, mở miệng bao nylon cho nó thở. Nhìn đứa nhỏ được cha đưa ra khỏi bao nylon, mặt nó ngơ ngơ ngác ngác, tôi bần thần, bị ám ảnh rất lâu”.

Sự ám ảnh đó được ông thể hiện trong một kịch bản phim với những chất liệu sống động, những nhân vật giàu sức sống và thể hiện vẻ đẹp giản dị hồn hậu nhưng cũng quật cường bất khuất của người dân Nam Bộ.

Chất liệu kịch bản ấy qua bàn tay đạo diễn của Hồng Sến, người vốn xuất thân là một nhà quay phim và đã từng thành công với Mùa gió chướng (cũng với kịch bản của Nguyễn Quang Sáng) trước đó một năm, giúp bộ phim trở thành một bản anh hùng ca giản dị và trữ tình qua diễn xuất của hai diễn viên Lâm Tới (vai Ba Đô) và Sáu Xoa (Thúy An).

Sự ăn ý ấy còn được hỗ trợ bởi nhà quay phim Đường Tuấn Ba và phần âm nhạc vừa hào hùng vừa trữ tình của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn. Tất cả những con người tài hoa ấy đã cống hiến hết sức sáng tạo của họ, biến Cánh đồng hoang trở thành một tác phẩm điện ảnh có thể nói là hoàn hảo nhất của một thế hệ những nhà làm phim cách mạng Việt Nam.

‘Cánh đồng hoang’ - bản hùng ca trữ tình của điện ảnh Việt

Bộ phim thể hiện tinh thần hồn hậu, hào sảng của người dân Nam Bộ.

Tinh thần của người Nam Bộ

Cánh đồng hoang vào phim rất giản dị và tự nhiên nhưng thể hiện ngay được tinh thần hồn hậu, hào sảng của người dân Nam Bộ. Màn hò hát đối vừa chòng ghẹo vừa giao duyên giữa Ba Đô (Lâm Tới đóng) và Sáu Xoa (Thúy An) duyên dáng và hài hước, thể hiện họ là hai người nông dân Đồng Tháp Mười sống trên sông nước.

Họ là một cặp vợ chồng trẻ có một đứa con nhỏ vài tháng tuổi. Gia đình nhỏ hạnh phúc của họ sống trong một căn chòi lá giữa cánh đồng hoang mùa nước nổi mênh mông. Nhưng họ không chỉ là một cặp vợ chồng nông dân Nam Bộ bình thường mà còn làm nhiệm vụ giao liên, che chở và đưa cán bộ cách mạng qua cánh đồng hoang, tránh khỏi sự bố ráp của máy bay trực thăng Mỹ.

Bối cảnh và không gian của bộ phim thực sự đặc sắc, giúp người xem vừa có một hình dung cụ thể vừa có nhiều góc nhìn quan sát khác nhau. Trên cái nền bối cảnh giữa cánh đồng hoang bát ngát không nơi ẩn nấp ấy, vợ chồng Ba Đô sẽ sống như thế nào?

Và giữa ba tầng không gian: trên không (máy bay trực thăng của Mỹ), trên mặt nước (căn chòi hay chiếc thuyền của vợ chồng Ba Đô), dưới mặt nước (nơi ẩn nấp duy nhất khỏi sự bố ráp của máy bay và súng đạn của lính Mỹ), đạo diễn sẽ kể như thế nào để làm bật lên được sự đối lập trong một cuộc chiến không cân sức giữa sự thô sơ và vũ khí hiện đại, giữa những con người bình dị và những cỗ máy tối tân luôn tìm cách săn lùng và tiêu diệt họ?

Làm thế nào để kể một câu chuyện đau thương mất mát nhưng vẫn hồn hậu, đầy sức sống và thể hiện được vẻ đẹp, đời sống sinh hoạt hay chất trữ tình, lãng mạn của người dân Nam Bộ?

Ngay từ những cảnh ở phần đầu của bộ phim, đạo diễn đã cho thấy sự tài hoa trong nghệ thuật kể chuyện của ông. Ba Đô làm nhiệm vụ giao liên, kết nối với những chiến sĩ cách mạng. Sáu Xoa ở nhà chăm con, đợi đến khi chồng trở về thì để chồng trông con để ra cánh đồng mùa nước nổi bắt cá.

Trong một lần bị máy bay Mỹ phát hiện và bố ráp, chúng ném bom làm tan tác chiếc thuyền của Sáu Xoa. Ba Đô cũng sợ máy bay Mỹ phát hiện nên đưa con ngồi trong chiếc thau nhựa và giấu con trong một bụi cỏ lau.

Khi máy bay Mỹ vừa bay khỏi tầm mắt, Sáu Xoa trồi lên khỏi mặt nước, lo lắng chạy về nhà vì sự an nguy của chồng con. Nhà quay phim Đường Tuấn Ba ngồi trên thuyền, sử dụng một cú máy travelling cầm tay đầy sáng tạo để mô tả cuộc sum họp của gia đình họ trong tiếng gọi vang vọng và tiếng cười giòn giã của cả hai.

Những cú máy travelling cầm tay này còn được thể hiện trong nhiều khuôn hình đặc sắc khác, khi thì một khuôn hình toàn cảnh mô tả cảnh Sáu Xoa tìm đường lẩn trốn với hậu cảnh là chiếc máy bay Mỹ đang ráo riết săn lùng với những đợt sóng lúa, cỏ dại ngã nghiêng trên mặt nước, khi thì quay cảnh Ba Đô bắt được một con trăn và cầm đuôi nó quay vòng tròn trên đầu.

‘Cánh đồng hoang’ - bản hùng ca trữ tình của điện ảnh Việt

Cảnh máy bay Mỹ săn lùng được thể hiện đầy ấn tượng.

Và sự đối lập dữ dội giữa hai thái cực sinh tử ấy được thể hiện sau đó trong một đoạn phim xuất sắc nhất trong phim chiến tranh Việt Nam. Trước sự nguy hiểm tính mạng của đứa con, Ba Đô cho đứa con vào túi ni lông và dìm xuống nước đợi cho máy bay Mỹ rời khỏi.

Nhà quay phim Đường Tuấn Ba thể hiện nhiều góc máy khác nhau: có khi là một cú máy từ trên trực thăng trên cao xuống để mô tả cảnh săn lùng ráo riết của máy bay Mỹ ở tầm thấp, khi thì một cú cận cảnh để thể hiện cảnh “đường cùng” của Ba Đô khi cho con vào túi ni lông dìm xuống nước. Đây là cảnh quay thật hoàn toàn.

Sau 40 năm vẫn gây xao xuyến

Đường Tuấn Ba trong cuốn sách Mười bí quyết hình ảnh (tác giả Trịnh Đình Lê Minh, Tủ sách Điện ảnh và NXB Văn hóa Sài Gòn) đã kể lại rằng: “Là con người tôi đã xót xa cho nhân vật, là người cầm máy quay tôi càng thấy xót xa cực độ khi cảnh vợ chồng Ba Đô bồng thằng nhỏ, bỏ vào bao, nhấn xuống nước đến mấy phút đồng hồ”.

“Máy bay quần thảo trên đầu và tôi lại cảm nhận hai thái cực đối lập sinh tử: một bên tìm diệt và một bên lẩn trốn để bảo vệ sự sống của chính mình. Nhưng trong hoàn cảnh khốc liệt đó, tâm hồn của anh giao liên và vợ anh vẫn vững vàng, hạnh phúc”.

Sự vững vàng, hạnh phúc mà nhà quay phim Đường Tuấn Ba nói đã làm nên giá trị và sức sống lâu bền cho Cánh đồng hoang. Quả thực là vậy, trong một cuộc chiến không cân sức và một hoàn cảnh khốc liệt như thế, ta vẫn thấy sự hạnh phúc sáng bừng trên khuôn mặt của Ba Đô và Sáu Xoa.

Máy quay của Đường Tuấn Ba, dưới sự chỉ đạo của Hồng Sến lúc này lại thiên về cận cảnh và đặc tả để mô tả vẻ đẹp hồn hậu trên gương mặt của cả hai. Sự rắn rỏi, hào sảng Nam Bộ của Ba Đô thể hiện qua những cảnh anh chơi đùa với con, leo lên cây để theo dõi máy bay giặc, bắt một chú trăn lớn và quay mòng mòng trên đầu.

Trong khi đó, với Thúy An, lúc này mới ngoài 20 tuổi và là vợ của đạo diễn Hồng Sến, máy quay trở nên chăm chút để đặc tả vẻ đẹp đầy sức sống của Sáu Xoa, lúc thì nụ cười bẽn lẽn, lúc thì đôi mắt ầng ậng nước khi bị chồng cho một cái tát vì tội lơ đễnh để con rơi xuống nước. Dù Lâm Tới gần gấp đôi số tuổi của Thúy An, cả hai thể hiện sự hạnh phúc và tình cảm bình dị của một cặp vợ chồng rất ăn ý.

Niềm hạnh phúc của gia đình nhỏ, đời sống sinh hoạt mùa nước nổi của vùng Đồng Tháp Mười được đặc tả một cách trọn vẹn, khiến bộ phim không đơn thuần chỉ là một bộ phim chiến tranh Việt Nam, mà còn là một tác phẩm mang đậm tinh thần và vẻ đẹp của con người Việt Nam.

Nhưng ngay cả khi mô tả những cảnh trữ tình ấy, đạo diễn cũng cho thấy một chủ ý của ông: cuộc chiến tranh du kích của người Việt Nam sở dĩ thắng vũ khí tối tân và hủy diệt của Mỹ bởi vì tinh thần lạc quan, vẻ đẹp hồn hậu nhưng bất khuất của những con người nông dân bình dị, ngay cả trong sự đau thương mất mát của họ.

Điều này được thể hiện rõ trong đoạn cuối phim khi Sáu Xoa cầm súng đuổi theo để bắn một chiếc trực thăng Mỹ. Bản anh hùng ca trữ tình trên Cánh đồng hoang ấy sau gần 40 năm vẫn khiến người xem hôm nay phải xao xuyến chính là nhờ những giá trị như vậy.

Tất nhiên bộ phim không có những điểm hạn chế gần như khó thoát khỏi của phim chiến tranh Việt Nam: cách mô tả lính Mỹ đơn điệu, một chiều, cách thoại giả tạo (để lính Mỹ nói tiếng Việt lơ lớ), xây dựng nhân vật người Mỹ nặng tính ước lệ và gần như giống nhau trong hầu hết các bộ phim có cùng đề tài.

‘Cánh đồng hoang’ - bản hùng ca trữ tình của điện ảnh Việt

Cánh đồng hoang là phim duy nhất của điện ảnh Việt Nam giành giải cao nhất tại một LHP quốc tế.

Đạo diễn Hồng Sến cũng nỗ lực để phá bỏ sự hạn chế này khi trong những cảnh cuối, ông xây dựng một nhân vật sĩ quan Mỹ đánh rơi bức hình vợ và con anh ta trong túi áo xuống đất khi máy bay trực thăng của anh ta bị bắn hạ.

Câu thoại “Có những điều ta chưa hiểu hết họ” trong một cảnh phim nói về người Mỹ cũng phần nào cho thấy những người sáng tạo của bộ phim này biết được điểm yếu của họ khi xây dựng những nhân vật phản diện.

Cho dù vậy, sự hạn chế ấy không làm đánh mất giá trị và sức sống lâu bền của Cánh đồng hoang.

Cánh đồng hoang

Hãng phim Giải Phóng. 1h30’

Đạo diễn: Hồng Sến

Kịch bản: Nguyễn Quang Sáng

Quay phim: Đường Tuấn Ba

Âm nhạc: Trịnh Công Sơn

Diễn viên: Lâm Tới, Thúy An, Robert Hải

Giải thưởng: Huy chương vàng (Golden Prize) và giải đặc biệt của Liên đoàn Báo chí quốc tế (Prix FIPRESCI) tại LHP Quốc tế Moscow lần thứ 12 (1981).

Bông sen Vàng LHP VN 1980 cho Phim hay nhất, Biên kịch xuất sắc (Nguyễn Quang Sáng), Nam diễn viên chính xuất sắc (Lâm Tới), Quay phim xuất sắc (Đường Tuấn Ba)…

Theo Zing

Tin liên quan

 
Chia sẻ
 

Chuyên mục: Phim Việt

« »

 

Tags: , , , , , , , , , ,

 


Tin mới


Xem nhiều


Tiêu điểm



Bạn nghĩ gì?


Chuyện của sao


Người đẹp


Sành điệu


Truyền hình thực tế


đời sống




Desktop version | Lên đầu